BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT SÔNG CÔNG

TRA CỨU SÁCH CÓ TRONG THƯ VIỆN

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Le_huong_ung.jpg 1.jpg

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    CHỦ QUYỀN VN

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
    Ngày gửi: 15h:26' 04-05-2024
    Dung lượng: 5.8 MB
    Số lượt tải: 30
    Số lượt thích: 0 người
    Chịu trách nhiệm xuất bản:
    Q. GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
    PHẠM CHÍ THÀNH
    Chịu trách nhiệm nội dung:
    PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
    TS. ĐỖ QUANG DŨNG
    ThS. PHẠM THỊ THINH

    Biên tập nội dung:

    TS. HOÀNG MẠNH THẮNG
    ThS. BÙI THỊ ÁNH HỒNG
    TRẦN PHAN BÍCH LIỄU
    Trình bày bìa:
    Chế bản vi tính:
    Đọc sách mẫu:

    DUY THÁI
    PHẠM THU HÀ
    TRẦN MINH NGỌC
    BÙI BỘI THU

    Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 1360-2020/CXBIPH/3-301/CTQG.
    Số quyết định xuất bản: 4999-QĐ/NXBCTQG, ngày 09/6/2020.
    Nộp lưu chiểu: tháng 6 năm 2020.
    Mã số ISBN: 978-604-57-5656-0.

    Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm
    cña Th− viÖn Quèc gia ViÖt Nam
    Hµ Minh Hång
    Chñ quyÒn ViÖt Nam trªn BiÓn §«ng / Hµ Minh Hång ch.b. H. : ChÝnh trÞ Quèc gia, 2019. - 324tr. ; 21cm
    1. Chñ quyÒn quèc gia 2. BiÓn §«ng 3. ViÖt Nam
    320.1509597 - dc23
    CTL0214p-CIP

    TẬP THỂ TÁC GIẢ
    PGS.TS. HÀ MINH HỒNG (Chủ biên)
    PGS.TS. TRẦN NAM TIẾN
    TS. NGUYỄN KIM HOÀNG
    TS. NGÔ HỮU PHƯỚC
    NHỮNG NGƯỜI THAM GIA
    PGS.TS. ĐINH ĐỨC ANH VŨ
    TS. NGUYỄN QUỐC CHÍNH
    TS. LÊ THỊ KIM THOA
    TS. LÊ THỊ QUỲNH HÀ
    PGS.TS. NGUYỄN THÀNH VẤN
    PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN
    ThS. NGUYỄN THỊ THU TRANG
    PGS.TS. BÀNH QUỐC TUẤN
    PGS.TS. ĐINH NGỌC THẠCH
    ThS. NGUYỄN THANH HẰNG
    NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

    4

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Biển Đông là cửa ngõ thông ra Thái Bình Dương - đại
    dương lớn nhất thế giới, là vùng biển có vị trí đặc biệt quan
    trọng trong giao thông, giao thương quốc tế và an ninh chiến
    lược, không chỉ đối với các quốc gia trong khu vực mà cả đối
    với nhiều quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt là các nước lớn.
    Chính vì vậy, nơi đây trở thành tâm điểm trong quan hệ quốc
    tế tại châu Á - Thái Bình Dương.
    Xuất phát từ vị trí đặc biệt liên quan đến Biển Đông,
    cùng với lịch sử xác lập chủ quyền quốc gia dân tộc trên vùng
    biển này, cũng như những căn cứ pháp lý mà Công ước Liên
    hợp quốc về Luật biển năm 1982 quy định, Việt Nam khẳng
    định đầy đủ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán
    của mình theo luật pháp và các công ước quốc tế đối với vùng
    biển này và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
    Để khái quát quá trình xác lập và thực thi chủ quyền
    biển, đảo của Việt Nam với đầy đủ cơ sở khoa học và pháp lý,
    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Đại
    học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản cuốn sách:
    Chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông.

    5

    Cuốn sách là tài liệu có ý nghĩa, góp phần cung cấp những
    luận cứ khoa học xác đáng về vấn đề chủ quyền của Việt Nam
    trên Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
    Dù các tác giả đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu,
    thu thập tư liệu, song cuốn sách khó tránh khỏi hạn chế,
    thiếu sót. Rất mong nhận được sự quan tâm góp ý của các
    chuyên gia, các nhà nghiên cứu cùng đông đảo bạn đọc để lần
    xuất bản sau cuốn sách được hoàn thiện hơn.
    Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
    Tháng 9 năm 2019
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

    6

    LỜI GIỚI THIỆU
    Việt Nam là quốc gia ven biển, đứng thứ 27/156 quốc
    gia có biển trên thế giới. Thứ hạng ấy được xác định bởi
    chiều dài bờ biển (hơn 3.260 km) và diện tích mặt biển
    (hơn 1 triệu km2); nhưng hơn thế, biển Việt Nam còn có
    hàng nghìn đảo gần bờ và xa bờ, trong đó có quần đảo
    Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
    Chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của
    Việt Nam trên không gian biển, đảo không chỉ được lưu trữ
    đầy đủ trong tư liệu ở 28 tỉnh, thành phố có biển, mà có ở
    toàn bộ 63 tỉnh, thành phố và hầu khắp cơ quan, đơn vị,
    viện nghiên cứu khoa học và văn hóa cả Trung ương và
    địa phương; không chỉ gần 100 triệu dân trong nước
    luôn nhắc nhớ, mà hàng triệu đồng bào Việt Nam đang
    sinh sống ở hơn 100 quốc gia trên thế giới cũng đều hiểu
    rõ. Chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của
    Việt Nam với biển, đảo phù hợp với Công ước của Liên
    hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 và các văn bản
    pháp lý khác của quốc tế. Trên thực tế, Việt Nam đã thực
    hiện đầy đủ các quyền của mình đối với biển, đảo.
    Với mỗi quốc gia, chủ quyền đất nước là thiêng liêng,
    bất khả xâm phạm, quan hệ láng giềng thân thiện, hữu
    nghị và hợp tác là tài sản quý giá. Việt Nam có biên giới
    7

    đất liền tiếp giáp với 3 nước Trung Quốc, Lào, Campuchia
    và biên giới biển, đảo với 9 quốc gia và vùng lãnh thổ
    khác. Như vậy, Việt Nam đã và đang đứng giữa một cộng
    đồng rộng lớn, đang chung sức phát triển trong một khối
    cố kết lợi ích từ Đông Nam Á nhân rộng ra bốn phương.
    Trong phần của đại dương và được tạo hóa ban cho,
    Việt Nam mấy chục năm nay đã quen với niềm tin định
    hướng quốc gia “mạnh về biển”; đảo Việt Nam đã và đang
    gắn chặt với phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội và an
    ninh - quốc phòng của quốc gia, gắn liền với chiến lược
    phát triển của đất nước cả ở hiện tại và trong tương lai.
    Ý thức được vị trí và tầm quan trọng của biển, đảo
    Việt Nam, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức
    biên soạn cuốn sách Chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông
    làm tài liệu học tập dành cho sinh viên đại học và sau đại
    học. Hơn nữa đây là “giáo trình mở” cho người giảng dạy,
    nghiên cứu, học tập, đồng thời là tác giả điều chỉnh, bổ sung,
    viết tiếp cho cuốn sách ngày càng hoàn chỉnh hơn.
    Hy vọng cuốn sách gợi mở cho người đọc, người học,
    người sử dụng tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi và phát triển
    những nội dung kiến thức mới về vấn đề này, chung với
    trách nhiệm và niềm tin yêu vào sự nghiệp đào tạo những
    công dân Việt Nam ái quốc.
    Trân trọng giới thiệu cuốn sách với cán bộ, giảng viên,
    sinh viên, học viên và đông đảo bạn đọc.
    Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2019
    T/M TẬP THỂ TÁC GIẢ
    PGS.TS. Hà Minh Hồng
    8

    Chương 1

    TỔNG QUAN VỀ BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
    I- VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
    1. Vị trí Biển Đông
    Biển Đông là tên gọi của người Việt Nam đặt cho vùng
    biển nằm ở phía tây Thái Bình Dương và phía đông bán
    đảo Đông Dương. Đây là một vùng biển tương đối kín và là
    một trong 4 biển lớn nhất thế giới. Chiều dài Biển Đông
    khoảng 3.000 km, rộng tới 1.000 km; nằm ở vĩ độ 30 vĩ bắc
    đến 260 vĩ bắc, 1000 kinh đông đến 1210 kinh đông; diện
    tích khoảng 3,5 triệu km2, độ sâu trung bình khoảng 1.140 m
    và độ sâu cực đại là 5.016 m. Các quốc gia và vùng lãnh
    thổ tiếp giáp với Biển Đông là: Việt Nam, Trung Quốc,
    Philíppin, Inđônêxia, Brunây, Malaixia, Xingapo, Thái
    Lan, Campuchia và Đài Loan (Trung Quốc).
    Biển Đông được ví như "ngã ba đường" của thế giới;
    nối liền hai đại dương lớn là Thái Bình Dương và Ấn Độ
    Dương, có khả năng trao đổi nước với các biển và đại
    dương lân cận qua các eo biển, tạo nên vị trí chiến lược
    9

    quan trọng trong khu vực: phía tây nam giao với Ấn Độ
    Dương qua eo biển Karimata và eo biển Malắcca; phía
    bắc và phía đông trao đổi nước thuận lợi với Thái Bình
    Dương qua các eo biển sâu và rộng như eo biển Đài
    Loan và eo biển Bashi.
    Trên bản đồ giao thông vận tải thế giới, các tuyến
    đường hàng không và hàng hải quốc tế chủ yếu giữa
    Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đều đi qua Biển
    Đông với khối lượng hàng hoá vận chuyển rất lớn.
    Tuyến đường hàng hải quốc tế có tính huyết mạch nối
    liền Tây Âu, qua Trung Đông - Ấn Độ Dương, đến Đông
    Nam Á qua Biển Đông và đi Đông Bắc Á, với hai hải
    cảng lớn của thế giới án ngữ hai đầu là cảng Hồng Kông ở
    phía bắc và cảng Xingapo ở phía nam. Vì vậy, Biển Đông
    được xem là tuyến giao thông đường biển nhộn nhịp thứ
    hai thế giới sau Địa Trung Hải. Nhiều quốc gia ở Đông
    Nam Á có nền kinh tế phụ thuộc vào các tuyến hàng hải
    đi qua Biển Đông như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo,
    Trung Quốc,... Vị trí địa - chính trị của Biển Đông
    không chỉ quan trọng đối với khu vực mà còn với các
    quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy, Biển Đông đã từ
    lâu luôn là yếu tố không thể thiếu trong chiến lược phát
    triển của một số cường quốc hàng hải trên thế giới,
    trong đó có Mỹ.
    Biển Đông có hai vịnh lớn là vịnh Thái Lan và vịnh
    Bắc Bộ. Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía tây bắc của Biển Đông,
    10

    rộng khoảng 126.250 km2, chiều dài khoảng 403 km, nơi
    rộng nhất là 320 km. Bờ vịnh khúc khuỷu với khoảng
    hơn 2.300 hòn đảo lớn nhỏ. Khối nước vịnh Bắc Bộ chủ
    yếu giao lưu với Biển Đông qua cửa phía nam rộng
    khoảng 230 km và sâu hơn 100 m; một phần nước được
    trao đổi qua eo biển hẹp (18 km) và không sâu (20 m) ở
    Quỳnh Châu. Vịnh Bắc Bộ có vị trí chiến lược quan trọng
    cả về kinh tế và quốc phòng - an ninh.
    Vịnh Thái Lan nằm sâu vào phía bờ tây nam của
    Biển Đông, có bờ biển chung với Việt Nam, Campuchia,
    Thái Lan và Malaixia. Vịnh có diện tích 293.000 km2,
    chiều dài lớn nhất là khoảng 628 km, rộng khoảng 290
    km và là một vịnh nông, nơi sâu nhất là 80 m, trung bình
    60 m. Vịnh này không có nhiều đảo, bên phía vùng biển
    ven bờ Việt Nam có khoảng 165 đảo với 613 km2, nhưng
    có nhiều đảo lớn; đảo Phú Quốc rộng hơn 567 km2 là đảo
    lớn nhất ven bờ Việt Nam.
    2. Vị trí của biển, đảo Việt Nam
    Điều 1, khoản 1, Luật biển Việt Nam năm 2013
    quy định: "Vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh
    hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế
    và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và
    quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác định
    theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế về biên giới
    lãnh thổ mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
    11

    là thành viên và phù hợp với Công ước của Liên hợp
    quốc về Luật biển năm 1982".
    Từ Điều 8 đến Điều 21 Luật biển năm 2013 quy
    định cụ thể về cách xác định và chế độ pháp lý của
    từng vùng biển:
    Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam
    là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố. Ở
    những khu vực chưa có đường cơ sở sẽ được Chính phủ
    xác định và công bố sau khi được Ủy ban thường vụ
    Quốc hội phê chuẩn.
    Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía
    trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam.
    Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính
    từ đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới ngoài của lãnh
    hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam.
    Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và
    nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý
    tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải.
    Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và
    nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành
    một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường
    cơ sở.
    Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới
    đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam,
    trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất
    liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép
    12

    ngoài của rìa lục địa. Trong trường hợp mép ngoài của
    rìa lục địa này cách đường cơ sở chưa đủ 200 hải lý thì
    thềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 200 hải lý tính từ
    đường cơ sở. Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục
    địa này vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì
    thềm lục địa nơi đó được kéo dài không quá 350 hải lý
    tính từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý tính từ
    đường đẳng sâu 2.500m.
    Biển Việt Nam có khoảng hơn 3.000 đảo, trong đó
    có 2.773 đảo ven bờ, gồm các tuyến, cụm đảo tập trung
    ở vùng biển ven bờ Quảng Ninh - Hải Phòng và hai
    quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Tổng diện tích các đảo
    khoảng 1.700 km2, trong đó 3 đảo có diện tích hơn 100 km2
    là Phú Quốc (Kiên Giang), Cái Bàu (Quảng Ninh) và
    Cát Bà (Hải Phòng).
    Các đảo của Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong chiến
    lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng, chủ quyền của đất nước.
    Quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands, có nghĩa là
    Cát vàng hay Bãi cát vàng) có trên 36 đảo đá, cồn san
    hô, đá ngầm, được chia làm hai nhóm: An Vĩnh ở phía
    đông và Lưỡi Liềm ở phía tây. Quần đảo Hoàng Sa
    cách Đà Nẵng khoảng 170 hải lý (315 km) về phía
    đông, cách cù lao Ré (đảo Lý Sơn) 120 hải lý (222 km),
    cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) ở nơi gần nhất
    khoảng 140 hải lý (259 km). Diện tích phần nổi của
    13

    quần đảo này khoảng 10 km2 bao gồm 3 nhóm đảo
    chính: Tuyên Đức (Amphitrite) ở phía bắc, Nguyệt
    Thiềm hay Lưỡi Liềm (Croissant) ở phía tây nam và
    Linh Côn ở phía đông nam.
    Quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) là một nhóm
    gồm khoảng 130 đảo, đá, cồn san hô, bãi ngầm, bãi cát,
    rạn san hô phân bố trong diện tích khoảng 163.000 km2;
    chiều dài từ tây sang đông khoảng 800 km, từ bắc xuống
    nam khoảng 600 km. Quần đảo Trường Sa gồm 8 cụm
    đảo là: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn,
    Trường Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên. Có 9 đảo, bãi
    quan trọng là: Trường Sa, An Bang, Ba Bình, Nam Yết,
    Loại Ta, Thị Tứ, Song Tử Đông, Song Tử Tây và bãi An
    Nhơn. Tổng diện tích phần đất nổi tự nhiên của quần
    đảo Trường Sa khoảng 5 km2 nhưng trải trên vùng biển
    rộng gấp nhiều lần quần đảo Hoàng Sa. Trường Sa Lớn
    là đảo gần đất liền nhất, cách Cam Ranh 248 hải lý1.
    II- TÀI NGUYÊN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
    1. Tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái biển
    Vị trí địa lý và khí hậu đặc biệt đã tạo cho Biển
    Đông có sự đa dạng sinh học cao so với các nước trên thế
    _______________
    1. Xem Phạm Văn Ninh (Chủ biên): Biển Đông, tập II: Khí
    tượng thủy văn động lực biển, Nxb. Khoa học tự nhiên và Công
    nghệ, Hà Nội, 2009.

    14

    giới cả về cấu trúc thành phần loài, hệ sinh thái và
    nguồn gen.
    a) Tài nguyên sinh vật biển
    Hiện nay, đã phát hiện hơn 11.000 loài sinh vật
    thủy sinh và 1.300 loài sinh vật trên đảo được biết đến
    trong các vùng biển, đảo Việt Nam, trong đó có khoảng
    6.000 loài động vật đáy và hơn 2.000 loài cá. Có 83 loài
    sinh vật biển được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam (37 loài
    cá, 6 loài san hô, 5 loài da gai, 4 loài tôm rồng, 1 loài
    sam, 21 loài ốc, 6 loài động vật hai mảnh vỏ và 3 loài
    mực). Ngoài ra, còn có nhiều loại động vật quý như đồi
    mồi, rắn biển, chim biển và thú biển.
    Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, trong các vùng
    biển Việt Nam còn có các hệ sinh thái: rừng ngập mặn,
    thảm cỏ biển, rạn san hô, v.v.. Trong các hệ sinh thái
    này, tính đa dạng sinh học rất cao.
    Tiềm năng nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ
    trong các vùng cửa sông, đầm, vũng, vịnh và vùng biển
    ven bờ rất lớn. Diện tích nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
    hiện nay khoảng 2 triệu hécta, bao gồm ba loại hình
    mặt nước là nước ngọt, nước lợ và nước mặn ven bờ, có
    thể nuôi trồng tôm, cua, rong câu, cá lồng,... Nuôi trồng
    sinh vật biển cũng đã đóng góp sản lượng lớn thủy sản
    cho thực phẩm, dược phẩm, vật liệu thủ công, mỹ nghệ,
    v.v. phục vụ cho cuộc sống.
    Nguồn lợi cá biển
    Biển Việt Nam có khoảng 2.458 loài cá, đã xác định
    ở ba vùng biển ven bờ Việt Nam có khoảng 110 loài có
    15

    giá trị kinh tế, trong đó chỉ có 30 loài tập trung ở vùng
    biển sâu trên 50 m. Tổng trữ lượng cá biển Việt Nam
    khoảng 5,3 triệu tấn, khả năng khai thác bền vững là
    2,3 triệu tấn mỗi năm1. Nguồn lợi cá nổi nhỏ chiếm
    51%, cá nổi lớn chiếm 21%, cá đáy chiếm khoảng 27%.
    Có 15 bãi cá lớn, quan trọng trong đó có 12 bãi cá ở
    vùng ven bờ và 3 bãi cá ở gò nổi ngoài khơi2.
    Trong vùng biển ven bờ Việt Nam có các ngư
    trường truyền thống gồm: Cát Bà, Cô Tô, Bạch Long
    Vĩ, Hòn Mê - Hòn Mát, Cồn Cỏ (vịnh Bắc Bộ); đầm phá
    Thừa Thiên Huế, Quy Nhơn, Khánh Hòa, Phan Rang,
    Phan Thiết và các gò nổi ngoài khơi (vùng biển miền
    Trung); cù lao Thu, Nam Côn Sơn, cửa sông Cửu Long
    (vùng biển Nam Trung Bộ); tây nam Phú Quốc (vùng
    biển Tây Nam Bộ).
    Nguồn lợi tôm
    Tôm biển Việt Nam đa dạng về loài, đặc trưng cho
    vùng biển nhiệt đới, được coi là loài hải sản có giá trị
    xuất khẩu hàng đầu hiện nay. Các loài tôm biển có giá
    trị kinh tế cao gồm có tôm he, tôm hùm, tôm vỗ, tôm
    moi, tôm bề bề,... Tôm he có khoảng 30 loài sống ở vùng
    nước nông ven bờ (dưới 50 m) và 10 loài sống ở vùng
    _______________
    1. https://kinhtetrungương.vn/web/guest/kinh-te-nganh/
    2. Ban Tuyên giáo Trung ương: 100 câu hỏi - đáp về biển,
    đảo Việt Nam dành cho tuổi trẻ, Nxb. Thông tin - Truyền thông,
    Hà Nội, 2013, tr.56.

    16

    nước sâu 50 - 200 m. Tôm hùm có 7 loài thường gặp,
    sống ở vùng nước ven đảo ở độ sâu 10 - 20 m.
    Trữ lượng tôm và khả năng khai thác ở vùng vịnh
    Bắc Bộ là 1.408 tấn và 704 tấn; vùng biển miền Trung
    là 2.300 tấn và 1.150 tấn; vùng biển Đông Nam Bộ là
    3.983 tấn và 1.946 tấn; vùng biển Tây Nam Bộ là 3.383
    tấn và 1.946 tấn. Về phân bố, tôm xa bờ chiếm tỷ trọng
    lớn nhất nhưng chưa được khai thác nhiều; vùng biển
    gần bờ chiếm 19.000 - 24.000 tấn. Ngày nay, tôm được
    khai thác không chỉ từ biển mà còn được nuôi trong
    các bãi triều ven biển và cửa sông, cung cấp mỗi năm
    hàng chục ngàn tấn. Trong sản lượng xuất khẩu, tôm
    nuôi chiếm tỷ trọng lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
    Trong đó miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long
    có diện tích và sản lượng nuôi tôm lớn nhất1.
    Nguồn lợi thân mềm
    Nguồn lợi thân mềm ở vùng biển Việt Nam có
    khoảng 2.500 loài, trong đó có trên 100 loài có giá trị
    kinh tế lớn, ước tính trữ lượng các loài thân mềm ở Việt
    Nam khoảng 1.000.000 tấn, khả năng khai thác là
    500.000 tấn mỗi năm2. Trong đó, các loài mực, trai (43
    _______________
    1. Xem Nguyễn Tác An, Hoàng Trung Du: Hóa học biển,
    năng suất sinh học và các vấn đề môi trường trong vùng biển
    Việt Nam, Nxb. Khoa học tự nhiên và công nghệ, 2009.
    2. Xem Phạm Văn Linh, Đặng Công Minh (Chủ biên): Việt
    Nam - Quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, Nxb. Chính trị
    quốc gia, Hà Nội, 2012.

    17

    loài), ốc biển (43 loài), hàu và sò được ngư dân ven biển
    khai thác hằng ngày.
    Nguồn lợi đặc sản khác
    Ngoài các nguồn lợi cá, tôm, thân mềm, các loài đặc
    sản biển có giá trị kinh tế cao như chim yến, cá rạn san
    hô, động vật đáy, da gai, các loài động vật dược liệu, ở
    vùng biển này tuy không nhiều song rất đặc trưng của
    biểu Việt Nam.
    Cá rạn san hô là nhóm cá biển sống trong hệ sinh
    thái rạn san hô với 600 loài trong vùng biển Việt Nam,
    trong đó vùng biển miền Trung là 470 loài, Tây Nam Bộ
    120 loài, phía Bắc 50 loài, vùng biển Trường Sa 300 loài.
    Nhóm cá rạn san hô vãng lai có khoảng 35 loài, có trọng
    lượng lớn, giá trị cao như cá mú, cá hồng, cá chình,...
    Nhóm cá cảnh có kích thước nhỏ sống thành đàn, rất đa
    dạng, nhiều màu sắc, di chuyển nhanh, nổi tiếng như cá
    mao tiên, cá bướm, cá thia, cá nàng đào,... khoảng 300
    loài; riêng khu vực biển rạn san hô miền Trung có 60
    loài, hằng năm khai thác 80.000 - 100.000 con.
    Nguồn dược liệu từ động vật biển ở Biển Đông
    phong phú, nhiều loài đang là đối tượng tìm kiếm của
    ngành dược học biển thế giới với số lượng lớn như hải
    miên, san hô mềm, san hô sừng, giun nhiều tơ, sam
    biển, rắn biển, cá ngựa,...
    Nói chung, tiềm năng nguồn lợi hải sản của Việt
    Nam rất lớn nhưng khả năng khai thác còn hạn chế; chỉ
    18

    mới tập trung khai thác ở ven bờ, gây nên sự mất cân đối
    làm cho nguồn hải sản ven bờ nhanh chóng bị cạn kiệt.
    b) Hệ sinh thái biển
    Hệ sinh thái rừng ngập mặn
    Rừng ngập mặn (Mangrove) thường phát triển ở
    vùng cửa sông ven biển nhiệt đới có thủy triều. Đường bờ
    biển Việt Nam dài và khúc khuỷu, tạo nên nhiều đầm,
    phá, vũng, vịnh, có hàng trăm cửa sông đổ ra biển với
    khối lượng lớn phù sa. Vùng ven bờ Quảng Ninh - Hải
    Phòng có trên 2.000 hòn đảo lớn nhỏ, tạo nên vịnh Bái
    Tử Long, vịnh Hạ Long Cát Bà. Vùng ven bờ châu thổ
    sông Hồng có hệ thống sông Hồng tải ra biển 114 triệu
    tấn phù sa hằng năm, độ cao thủy triều 2,5 - 4,0 m,
    thuận lợi cho rừng ngập mặn phát triển. Vùng ven bờ
    Nam Bộ có hệ thống sông Cửu Long tải ra biển hàng
    triệu tấn phù sa hằng năm, độ cao thủy triều 2,5 - 3,5 m,
    quanh năm nắng ấm, nhiệt độ trung bình 26°C, không có
    mùa đông, rừng ngập mặn cũng phát triển rất thuận lợi.
    Rừng ngập mặn là nơi cung cấp dinh dưỡng khởi
    nguồn cho nhiều chuỗi thức ăn, là nơi sinh sản, nuôi
    dưỡng và phát tán nguồn gen sinh vật cho biển khơi và lân
    cận. Hệ sinh thái rừng ngập mặn còn được coi là vùng đệm
    giữa biển và đất liền. Ở đới gần biển thường phát triển loài
    mắm đước, tiếp theo về phía lục địa là cây vẹt và bần.
    Theo thống kê, đến năm 2015 diện tích rừng ngập
    mặn tự nhiên ở Việt Nam 19.500 ha, rừng ngập mặn
    19

    trồng là khoảng 37.600 ha1. Từ đó đến nay, diện tích
    rừng ngập mặn luôn bị thu hẹp và chất lượng rừng bị
    suy thoái. Hiện tượng phá rừng ngập mặn nuôi tôm,
    mở đường, mở rộng diện tích trồng lúa nước,... liên tục
    diễn ra.
    Vai trò của rừng ngập mặn đối với đời sống dân cư
    vùng ven biển
    - Rừng ngập mặn điều hòa không khí trong vùng,
    làm cho khí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và
    biên độ nhiệt. Hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ
    được ví như là “lá phổi” điều tiết khí hậu Cần Giờ, đem
    lại cho Thành phố Hồ Chí Minh vùng sinh quyển mới.
    - Chống xói lở và phát triển bãi bồi ven biển. Khi hệ
    thực vật ngập mặn phát triển, rừng sẽ là nơi cư trú và
    phát triển của nhiều loài sinh vật, từ sinh vật phù du,
    động vật đáy, đến các loài sinh vật trên cạn bậc cao, tạo
    nên một hệ sinh thái rừng ngập mặn điển hình, đặc
    trưng nhất là ở Cần Giờ và ven bờ Nam Bộ.
    Nguồn lợi đem lại từ rừng ngập mặn
    - Nguồn lợi hải sản: rừng ngập mặn là nguồn cung
    cấp chất hữu cơ để tăng năng suất vùng ven biển, là nơi
    sinh đẻ, nuôi dưỡng hoặc cư trú lâu dài cho nhiều loài
    hải sản có giá trị kinh tế cao như: cá, tôm, cua, sò,...
    Như vậy, rừng ngập mặn là trung tâm cư trú và phát
    _______________
    1. Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê và Tổng cục
    Biển và Hải đảo Việt Nam, Bộ Tài Nguyên và Môi trường của
    nhóm tác giả.

    20

    tán nhiều loài sinh vật cho các vùng biển lân cận và
    cũng là nơi nuôi dưỡng chính cho ấu trùng của tôm, cua
    và một số loài sò, cá khác. Ở vùng rừng ngập mặn đồng
    bằng sông Cửu Long có 69 loài cá, 30 loài tôm, 6 loài
    lưỡng cư, 34 loài bò sát, 171 loài chim, 28 loài thú1.
    - Nguồn lợi động vật trên cạn: Nhiều động vật trên
    cạn có cuộc sống gắn liền với bãi triều, thường xuất hiện
    đông đúc khi triều xuống. Những lạch triều cạn, những
    vũng nước sót lại và các bãi bùn,... là nơi tập trung của
    các loài như gà nước, choi choi, choắt, cà kheo, cò bợ,
    diệc; sát mép nước là vịt trời, mòng biển, ngỗng trời, rắn
    biển; cầy, lợn rừng,... từ trên cao cũng xuống bãi kiếm
    thức ăn.
    Rừng ngập mặn có tầm quan trọng trong bảo tồn đa
    dạng sinh học cho đới ven bờ và duy trì nguồn lợi sinh
    vật tiềm tàng như rừng ngập mặn Cà Mau, Lâm Viên ở
    Cần Giờ. Rừng ngập mặn là nơi cư trú, làm tổ hoặc
    kiếm thức ăn của hơn 200 loài chim, trong đó có loài
    quý hiếm như cò lạo xám, cò quắm cánh xanh, sếu cổ
    trụi khá phổ biến ở Đông Nam Á. Các động vật trên cạn
    sống trong rừng ngập mặn hằng ngày cung cấp lượng
    lớn các chất thải là nguồn dinh dưỡng cho cây rừng và
    sinh vật sống trong các kênh rạch.
    _______________
    1. Nguyễn Chu Hồi: “Kinh tế biển Việt Nam nhìn từ góc độ
    tài nguyên môi trường”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5-2013,
    tr.30-41.

    21

    - Sản phẩm nông nghiệp: Lá cây ngập mặn nhất là
    lá mắm có nhiều đạm là nguồn thức ăn giàu chất dinh
    dưỡng cho gia súc, gia cầm và cá nuôi lồng, bè. Lá cây
    rừng ngập mặn có hàm lượng muối và iốt cao; lá một số
    cây, đặc biệt là lá mắm được làm men ủ tạo nguồn phân
    xanh cho sản xuất nông nghiệp. Rừng ngập mặn đem
    lại nguồn mật ong rừng có giá trị kinh tế; có sự quần tụ
    của nhiều loài sinh vật khác từ những loài động vật
    không xương sống kích thước nhỏ đến xương sống kích
    thước lớn, từ những loài sống dưới nước đến sống trên
    cạn. Rừng ngập mặn vừa là nơi cư trú, nơi cung cấp
    nguồn dinh dưỡng cho sự tồn tại và phát triển của các
    quần thể cửa sông ven biển vừa là nơi ươm ấp các cơ thể
    non trẻ, duy trì đa dạng sinh học biển1.
    Hệ sinh thái thảm cỏ biển
    Hệ sinh thái thảm cỏ biển tiếp nối hệ sinh thái rừng
    ngập mặn ở đường bờ nhiệt đới. Cỏ biển sống trong môi
    trường nước biển trong ở độ sâu 3 - 30 m, ít chịu tác
    động mạnh của sóng gió, bám trên nền đáy là trầm tích
    bùn mịn và xốp nhẹ. Hệ sinh thái thảm cỏ biển cũng là
    nơi cư trú, sinh sản và nuôi dưỡng nhiều loài thủy sản.
    Nhiều loài động vật sử dụng nguồn thức ăn từ hoa cỏ
    biển và cây cỏ biển khi già đi tự phân hủy thành các
    chất mùn bã hữu cơ.
    _______________
    1. Xem Đặng Ngọc Thanh (Chủ biên): Biển Đông, Tập IV:
    Sinh vật và sinh thái biển, Sđd.

    22

    Ở Việt Nam, cỏ biển có 15 loài, phân bố từ Bắc vào
    Nam và ven các đảo. Thảm cỏ biển ở Phú Quốc (Kiên
    Giang) đa dạng nhất với 9 loài, tổng diện tích phân bố
    hơn 10.000 ha. Vùng triều ven bờ là môi trường sống
    thuận lợi cho cỏ biển, thường phát triển thành các bãi
    rộng hàng trăm hécta và phong phú về thành phần loài.
    Sống trong hệ sinh thái cỏ biển ở nước ta có 155 loài
    động vật đáy, 158 loài rong biển. Ở vùng Bắc Bộ đã
    phát hiện 82 động vật đáy (16 loài giun nhiều tơ, 20 loài
    ốc, 26 loài trai, 20 loài giáp xác); Nam Trung Bộ có 62
    loài động vật đáy (37 loài trai ốc, 8 loài giáp xác, 12 loài
    da gai); Nam Bộ có 88 loài, trong đó tôm và cá bống
    trắng có giá trị kinh tế cao chiếm đa số1.
    Hệ sinh thái rạn san hô2
    Ở vùng biển Việt Nam có khoảng 370 loài, 80
    giống, 17 họ thuộc nhóm san hô cứng Scleractinia;
    trong đó, có 355 loài, 74 giống san hô tạo rạn. Trong số
    17 họ, họ Acroporidae có số loài tập trung đông nhất
    (32 loài) chiếm 61% tổng số loài chung. Thành phần
    giống san hô biển Việt Nam được xem là phong phú
    trên thế giới, tương đương Inđônêxia (75 giống) và
    Philíppin (71 giống). Sự phát triển của san hô trong
    _______________
    1. Theo Nguyễn Văn Tiến: Nguồn lợi thảm cỏ biển Việt
    Nam, Nxb. Khoa học tự nhiên và công nghệ, Hà Nội, 2013.
    2. Xem Đặng Ngọc Thanh (Chủ biên): Biển Đông, Tập IV:
    Sinh vật và sinh thái biển, Sđd.

    23

    từng vùng biển: Bắc Bộ có 195 loài, 55 giống; miền
    Trung và Đông Nam Bộ có 320 loài, 73 giống; Tây Nam
    bộ có 264 loài, 64 giống; quần đảo Trường Sa và Hoàng
    Sa có 259 loài, 65 giống,...
    Ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, san hô
    phát triển đến độ sâu 30 m, có nơi đến 40 - 50 m; độ che
    phủ san hô sống nhiều nơi đạt 100%. San hô phát triển
    thành các rạn viền bờ và rạn vòng rất điển hình.
    Vùng biển miền Trung và Nam Trung Bộ có điều
    kiện tự nhiên thuận lợi: nước ấm quanh năm, nhiệt độ
    luôn trên 20oC, độ muối cao trên 32‰, độ trong suốt
    của nước lớn nên san hô có thể phát triển đến độ sâu
    15 - 20 m hoặc sâu hơn (Vũng Rô) và phát triển ở các bờ
    đá ven bờ đảo từ cù lao Chàm đến Côn Đảo.
    Vùng biển vịnh Bắc Bộ kém thuận lợi hơn, san hô chỉ
    phát triển ở các tuyến xa bờ của vịnh Hạ Long, Bái Tử
    Long, quần đảo Cô Tô, Long Châu, Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ,
    Hải Vân - Sơn Trà. Các rạn san hô vừa ngắn lại hẹp, chỉ có
    thể đến độ sâu 5 - 7 m; đảo Bạch Long Vĩ có thể tới 20 m.
    Vùng biển Tây Nam Bộ, các rạn san hô chỉ phát
    triển ở vùng ven các đảo xa bờ như ở Nam Du, Thổ Chu,
    Phú Quốc,... thường theo kiểu viền bờ với khoảng 264
    loài, 64 giống san hô phân bố ở độ sâu 10 m.
    Trong hệ sinh thái rạn san hô, có rất nhiều loài cá
    cảnh nhiều màu sắc và hình thức rất hấp dẫn như cá hải
    quỳ, cá bướm, cá thần tiên thường có màu sắc sặc sỡ.
    24

    Trong các rạn san hô thường gặp các loài cá có giá
    trị thực phẩm cao như cá ngừ, cá hoàng đế, cá hồng, cá
    mú, cá mó, cá bàng chài.
    Hệ sinh thái nước trồi
    Khu vực ven bờ nam Khánh Hòa - Bình Thuận có
    hệ sinh thái nước trồi xuất hiện theo gió mùa tây nam
    từ tháng 5 đến tháng 9, hoạt động mạnh vào tháng 7,
    nhiệt độ nước tầng mặt dưới 27°C, tại vùng tâm là
    24,5 - 25,5°C, nước tầng mặt tại vùng tâm nước trồi
    mạnh 21,76°C; dị thường nhiệt độ nước mặt là - 4°C và
    độ mặn là +1,2‰.
    Trong thời kỳ nước trồi gió mùa, thực vật phù du ở
    Nam Trung Bộ đạt 375 loài, trong đó ngành tảo Silic
    chiếm ưu thế. Các loại sinh vật trong khu vực nước trồi
    gió mùa tây nam gồm có:
    Động vật phù du xác định được 290 loài, mật độ 161
    con/m², sinh vật lượng là 60 mg/m³ đạt giá trị cao nhất
    của vùng biển.
    Động vật đáy có 402 loài với 4 nhóm chính: thân
    mềm, giáp xác, giun nhiều tơ và da gai. Trong đó, nhóm
    thân mềm (các loài mực, trai, ốc, điệp,...) có số loài nhiều
    nhất (128 loài), nhóm giáp xác chiếm 28,11% tổng số loài
    sinh vật đáy và nhóm da gai có số loài ít nhất, 49 loài.
    Sinh vật lượng của động vật đáy có hàm lượng 19,15
    g/m2 và mật độ là 206 con/m²; trong đó da gai chiếm tỷ
    lệ cao nhất (56,55%).
    Trong thời kỳ nước trồi gió mùa tây nam, nguồn
    thức ăn dồi dào đã thu hút các loài cá đến kiếm mồi,
    25

    vỗ béo và sinh sản. Đây là một ngư trường giàu
    nguồn lợi hải sản. Bên cạnh đó còn có hệ sinh thái
    đầm, phá; hệ sinh thái vũng, vịnh; hệ sinh thái cửa
    sông và bãi triều; hệ sinh thái cồn cát ven biển; hệ
    sinh thái đáy cứng.
    2. Tài nguyên khoáng sản
    a) Dầu khí
    Việt Nam có vùng thềm lục địa rộng lớn, từ lâu đã
    được đánh giá là có triển vọng dầu khí lớn, trữ lượng
    tiềm năng khoảng 4 - 8 tỉ m3 dầu quy đổi. Dầu khí ở
    Việt Nam được chia làm 17 lô với nhiều tầng chứa dầu
    khí khác nhau.
    Kết quả tìm kiếm và thăm dò đã xác định được 8
    bồn trũng có triển vọng dầu khí gồm: Sông Hồng, Phú
    Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Tư Chính - Vũng
    Mây, Hoàng Sa, Trường Sa, Mã Lai - Thổ Chu; trong
    đó, các bồn trũng Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn
    Sơn, Mã Lai - Thổ Chu đang khai thác dầu khí, được
    xác định là các bồn trũng chứa dầu khí với đặc trưng
    như sau:
    - Bồn trũng Sông Hồng: Phát hiện chủ yếu là khí, có
    một mỏ khí đang khai thác, một số phát hiện khác ở phía
    nam bồn trũng (vùng biển miền Trung) có hàm lượng
    CO2 cao (60 - 90%). Trữ lượng và tài nguyên dự báo
    khoảng 550 - 700 triệu mét khối quy ra dầu, chủ yếu là
    khí (khoảng 14% tổng tiềm năng dầu khí Việt Nam).
    26

    - Bồn trũng Phú Khánh: Ít được nghiên cứu. Mặc
    dù tầng sinh chưa được xác định nhưng trầm tích
    trong bồn trũng này có bề dày lớn được đánh giá là có
    triển vọng dầu khí. Tài nguyên dự báo khoảng 300 700 triệu mét khối quy ra dầu (10% tổng tiềm năng
    dầu khí Việt Nam).
    - Bồn trũng Cửu Long: Chủ yếu phát hiện dầu, có 4
    mỏ đang khai thác, một số phát hiện khác đang được
    thẩm lượng. Đây là bồn trũng chứa dầu chủ yếu ở thềm
    lục địa Việt Nam. Trữ lượng và tài nguyên dự báo
    khoảng 700 - 800 triệu mét khối dầu chủ yếu tập trung
    ở móng bị phong hóa, nứt nẻ.
    - Bồn trũng Nam Côn Sơn: Đây là bồn trũng chứa
    dầu và khí đã được nghiên cứu từ trước năm 1975, là
    vùng có nhiều lỗ khoan thăm dò nhất. Có một mỏ dầu
    đang khai thác, một số mỏ khí cũng đang được khai
    thác. Trữ lượng và tài nguyên dự báo 650 - 850 triệu
    mét khối quy ra dầu (17% tổng tiềm năng dầu khí
    Việt Nam).
    - Bồn trũng Mã Lai - Thổ Chu: Phát hiện cả dầu và
    khí. Phần phía bắc của bồn trũng (giáp với thềm lục địa
    Thái Lan), chủ yếu phát hiện khí, khí - condensate. Trữ
    lượng và tài nguyên dự báo có thể đạt 250 - 350 triệu mét
    khối quy ra dầu (5% tổng tiềm năng dầu khí Việt Nam).
    Nhìn chung, dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam
    thường là các mỏ nhiều tầng chứa dầu khí có tuổi khác
    nhau từ Oligocen đến Pliocen dưới và đá móng bị
    27

    phong hóa nứt nẻ với cấu trúc địa chất rất phức tạp.
    Liên doanh thăm dò và khai thác dầu khí Vietsovpetro
    phát hiện và khai thác dầu trong đá móng ở mỏ Bạch
    Hổ thuộc bồn trũng Cửu Long từ tháng 6/1986, không
    chỉ làm thay đổi phân bố trữ lượng và đối tượng khai
    thác ở mỏ này, mà còn tạo ra quan điểm địa chất mới
    cho tìm kiếm và thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Việt
    Nam. Nhờ đó, đã phát hiện dầu trong đá móng bị
    phong hóa nứt nẻ ở mỏ Rồng, Hồng Ngọc (Ruby), Rạng
    Đông, Sư Tử Đen (bồn trũng Cửu Long), B11 (bồn
    trũng Hà Nội). Đến ...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT SÔNG CÔNG - THÁI NGUYÊN !

    Lịch Sử Và Ý Nghĩa Ngày Giải Phóng Miền Nam